CÁCH MỞ TỦY ĐÚNG CÁCH THEO CẤU TRÚC GIẢI PHẪU PHẦN 3

CÁCH MỞ TỦY ĐÚNG CÁCH THEO CẤU TRÚC GIẢI PHẪU PHẦN 3

Răng cửa giữa dưới
Răng cửa giữa dưới cũng như răng cửa bên dưới đều rất khó điều trị. Nếu so sánh về độ khó thì Weine xếp nó sau răng cối lớn và răng cối nhỏ có hơn 1 ống tủy. Nó khó là vì răng dẹt theo chiều gần xa (hình 80A) nếu so sánh với độ rộng theo chiều ngoài trong (hình 11.80B). Điều này làm việc mở rộng ống tủy theo chiều nào cũng gặp khó khăn.

Hình 11.80. A. Răng cửa giữa dưới. Chân răng mỏng theo chiều gần xa. B. Chân răng rộng theo chiều ngoài trong.
Chú ý chỗ lõm ở 1/3 giữa chân răng.

Chân răng đôi lúc cong về phía xa hoặc phía trong, thường có 2 ống tủy (hình 11.81). Benjamin và Dawson đã có báo cáo cho rằng trường hợp này chiếm 41,4% (chỉ có 1.3% trường hợp là có 2 lỗ chóp riêng). Weine cho rằng 1 ống tủy có hình như dải băng chiếm 60%, 2 ống tủy với 1 lỗ chóp chiếm 35% và 2 ống tủy hoàn toàn riêng biệt chiếm 5%.
Ta có thể kết luận rằng răng cửa giữa dưới luôn được xem như có 2 ống tủy, thậm chí khi mà nó chỉ có 1 ống tuỷ với hình dạng dài theo chiều ngoài trong, vì vậy việc mở xoang tủy và sửa soạn ống tủy phải được làm như là có 2 ống tủy vậy. Vì độ dẹt theo chiều gần xa của chân răng, cần chú ý trong lúc mở xoang tủy tránh gây thủng thành. Dọc theo chân răng có phần lõm vào ở cả 2 bên; vì vậy, nếu mở rộng quá sẽ gây thủng thành chân răng.

Hình 11.81. Răng cửa giữa dưới với 2 ống tủy
Nên bắt đầu mở xoang tủy bằng một mũi khoan kim cương tròn nhỏ thì hình dạng xoang tủy khi hoàn thành nên có dạng hình trứng hoặc elip (hình 11.82). Cần cẩn thận loại bỏ hoàn toàn phần “tam giác #2” để bảo đảm tạo được một đường vào thẳng đến ống trong. Một xoang mở tủy quá hẹp có thể cho phép dụng cụ đi vào ống ngoài nhưng lại cản trở việc thăm dò và tạo hình ống trong (hình 11.83). Một xoang mở tủy đúng hầu hết phải mở rộng từ rìa cắn đến cingulum. Ở những răng mòn hoặc gãy thì xoang cũng liên quan đến rìa cắn, hay thậm chí là chỉ liên quan đến rìa cắn mà thôi (hình 11.84). Điều may mắn là chỉ có một tỷ lệ nhỏ trường hợp có 2 ống tủy với 2 lỗ chóp riêng biệt (hình 11.85). Điều này giải thích tại sao nếu nhìn thấy hơn 1 ống tủy thì không dẫn đến thất bại như ta vẫn tưởng.

Hình 11.82. A. Xoang mở tủy mở bằng mũi kim cương tròn nhỏ. B. Hình dáng xoang mở tủy khi hoàn thành có thể có hình trứng hoặc elip. C. Xoang mở tủy đầy đủ bộc lộ hai ống tủy.

Hình 11.83. A. Hình ảnh X-quang răng cửa giữa dưới theo chiều ngoài trong. B. Xoang mở tủy chưa đủ rộng. C. Một file #08 đi vào ống ngoài gặp trở ngại ở phần cổ răng. Do phần “tam giác #2” nên dụng cụ bị cản lại khi đi vào ống trong. D. Dùng mũi khoan tròn với tay khoan chậm loại bỏ hoàn toàn phần tam giác ngà này. E. X-quang của xoang mở tủy khi hoàn thành. F. File #08 có thể vào ống trong dễ dàng. G. Hai dụng cụ đi vào cho thấy có 2 ống tủy với 1 lỗ chóp chung.

Hình 11.84. A, B. Xoang mở tủy răng cửa giữa dưới bị gãy và mòn mặt nhai. Xoang mở tủy liên quan đến rìa cắn.
Trong cả hai trường hợp đều có 2 ống tủy

Hình 11.85. R11 với 2 ống tủy và 2 lỗ chóp. A. Phim trước điều trị. B. Phim sau điều trị.
Kiểm tra kỹ phim X-quang theo góc gần hoặc xa có thể thấy có 2 ống tủy (hình 11.86). Một số tác giả đề nghị rằng nên tìm thấy 2 miệng ống tủy trước nhưng theo quan điểm của tôi thì sẽ dễ hơn nếu tìm ống thứ hai sau khi đã sửa soạn ống thứ nhất, điều này giúp làm tăng cảm giác khi một dụng cụ nhỏ đi vào ống tủy thứ hai (ống này chưa được sửa soạn). Việc sử dụng dụng cụ chính xác với sự bơm rửa đầy đủ sẽ phòng tránh được việc làm tắc ống tủy chưa được sửa soạn. Việc hai ống tủy giao nhau ở cùng một lỗ chóp cũng thường xuyên xảy ra ở millimeter cuối cùng của
ống tủy. Trong những trường hợp này, trám bít ống tủy một ống ngắn hơn 1 mm so với chóp răng trên X-quang nghĩa là phần lỗ chóp chung chưa được trám bít. Trong trường hợp này, bỏ mặc ống tủy trong có thể dẫn đến thất bại. Các ống tủy bên cũng thường xuyên được tìm thấy (hình 11.87)

Hình 11.86. Bốn răng cửa dưới ở bệnh nhân này đều có 2 ống tủy. A. Xoang mở tủy hình elip. B. Phim sau điều trị.
Dễ dàng nhận thấy R31 với 2 ống tủy trên phim X-quang theo chiều gần xa.

Hình 11.87. Hai hình ảnh giải phẫu của răng cửa dưới với 2 ống tủy trên cùng bệnh nhân. R41 có 2 ống tủy với những lỗ chóp riêng biệt, trong khi R32 có 2 ống tủy có chung lỗ chóp. A. Phim trước điều trị. B. Phim trong lúc điều trị cho thấy hình ảnh 2 ống tủy riệng biệt C. Phim sau điều trị. Có một ống tủy phụ. D. Phim sau điều trị của răng cửa bên: 2 ống tủy giao nhau. E. Sau 2 năm (Courtesy of Dr. R. Becciani).

Răng cửa bên dưới
Răng này như là bản sao của răng cửa giữa dưới, điểm khác duy nhất là nó hơi dài hơn (hình 11.88 A, B).
Nó cũng có thể có 2 ống tủy đối xứng nhau trong chân răng. Nếu bệnh nhân có 2 ống tủy trong R42 thì có thể cũng có 2 ống tuỷ trong R32; nếu răng có 1 ống tuỷ trong R42 thì khả năng cũng có 1 ống trong R32 (hình 11.88 C, D)

Hình 11.88. A. Phim trước điều trị. Răng cửa bên dài hơn răng cửa giữa vài mm. B. Phim sau 3 năm. C. R42 có 1 ống tủy. D. R32 trên cùng bệnh nhân cũng có 1 ống tủy.
Răng nanh dưới Răng này thường có một chân răng và một ống tủy (87%) (hình 11.89A). Trong 10% trường hợp có 2 ống tủy giao nhau tại chóp (hình 11.89B), 3% có 2 ống tủy hoàn toàn phân biệt. Hiếm khi răng có 2 chân (hình 11.90). Chiều dài của răng có thể thay đổi nhưng thường thì cần phải sử dụng dụng cụ có chiều dài là 30mm.

Hình 11.89. A. Phim sau điều trị của răng nanh dưới với 1 ống tủy. B. Phim sau điều trị của răng nanh dưới với 2 ống
tủy giao nhau tại 1 lỗ chóp.

Hình 11.90. A. Răng nanh dưới với 2 ống tủy trong 2 chân răng. B,C. Trước và sau điều trị răng này.
Xoang mở tủy có hình trứng và phải mở rộng theo chiều ngoài trong đủ để tạo một đường vào thẳng ống trong, hoặc
trong bất kỳ trường hợp nào thành trong của ống tủy cũng dài theo chiều ngoài trong.
Ở những răng bị mòn, xoang mở tủy liên quan đến mặt nhai (hình 11.91,11.92). Nếu răng mòn cổ nhiều, xoang mở
tủy có thể tạo hoàn toàn từ mặt ngoài (hình 11.93).

Hình 11.91. Xoang mở tủy của 1 răng nanh bị mòn. A. Xoang mở tủy liên quan đến mặt nhai. B. Xoang mở tủy được mở rộng về rìa cắn cho đến khi dụng cụ không bị xoang tủy cản trở.

Hình 11.92. Xoang mở tủy ở răng nanh dưới bị mòn nhiều. A. Buồng tủy nằm ngay chính giữa mặt răng bị mòn, vì vậy mở tủy từ vị trí này. B. Xoang mở tủy hoàn toàn được tạo ở mặt nhai.

Hình 11.93. Xoang mở tủy ở răng nanh dưới bị mòn cổ nhiều. A. Buồng tủy nằm ngay tại dưới lớp ngà mỏng ở trung tâm phần bị mòn. B. Xoang mở tủy được mở hoàn toàn từ mặt ngoài thân răng. C. Dụng cụ đi thẳng vào mà không gặp phải trở ngại nào do thân răng.

Răng cối nhỏ một dưới

Vì có nhiều hình dạng giải phẫu, làm việc trên răng này sẽ là một thử thách lớn

Theo nghiên cứu của Vertucci, trường hợp một ống tủy được tìm thấy chiếm 70%; hai ống tủy có chung một lỗ chóp
chiếm 4% (hình 11.94); hai ống tủy riêng biệt chiếm 1.5% (hình 11.95), một ống tủy chia làm hai nhánh ở chóp chiếm
24% (hình 11.96) và hai ống tủy trong hai chân răng chiếm 0.5% (hình 11.97)

Hình 11.94. Phim sau điều trị của răng cối nhỏ 1 dưới với 2 ống tủy giao nhau tại chung 1 lỗ chóp.

Hình 11.95. A–C. Răng cối nhỏ 1 dưới có 2 ống tủy và 2 lỗ chóp riêng biệt

Hình 11.96. Răng cối nhỏ 1 dưới có ống tủy chia làm 2 nhánh ở 1/3 chóp

Hình 11.97. Răng cối nhỏ 1 dưới với chân răng chia thành hai ở 1/3 chóp.
Răng cối nhỏ một dưới có thể có 3 ống tủy và trong đó có 1 ống có dạng chữ C. Khó khăn gặp phải trong điều trị rõ ràng tùy thuộc cấu trúc giải phẫu của răng, phức tạp nhất là trường hợp 1 ống tủy chia làm 2 nhánh ở 1/3 chóp. Thân răng cối nhỏ dưới khá bất thường, nó được xem như là dạng chuyển tiếp răng nanh và răng cối nhỏ hai (hình 11.98A).Hai múi của răng hoàn toàn không cân xứng, múi ngoài rõ trong khi múi trong chỉ như là dấu vết của múi. Nó hầu như có thể xem là như là một cingulum lớn. Buồng tủy hình trứng theo hướng ngoài trong, hầu như nằm hoàn toàn dưới múi ngoài (hình 11.98); vì vậy 98% xoang mở tủy có hình elip và phải mở rộng ra phía múi ngoài.
Điểm vào của mũi khoan là đoạn giữa rãnh trung tâm, và hướng mũi khoan về phía múi ngoài (hình 11.98C), loại bỏ
hầu hết tại đỉnh (hình 11.98D-H)

Hình 11.98. A. Thân răng cối nhỏ 1 dưới có thể so sánh như răng nanh có cingulum cao. B. Buồng tủy nằm hầu như hoàn toàn dưới múi ngoài. C. Lúc tạo xoang mở tủy, mũi khoan phải hướng về phía ngoài. D. Mũi khoan kim cương tròn trong giai đoạn xuyên qua. E. Mũi khoan tròn loại bỏ phần còn lại của buồng tủy.F. Mũi khoan kim cương đầu trơn hoàn thành và làm loe xoang tủy. G. Xoang mở tủy khi hoàn tất. H. Xoang mở đúng cho phép dụng cụ vào được tất cả các ống tuỷ. I. Xoang mở tủy nhìn từ mặt nhai. J. Xoang mở tủy được tạo hầu như hoàn toàn tại phần múi ngoài.

Răng cối lớn một hàm dưới
Nhìn chung răng cối lớn một hàm dưới có 2 chân phân biệt hình tròn hay thường là elip, ống tủy ở chân xa (hình 11.106) và 2 ống tủy ở chân răng gần. Trong 90% trường hợp chúng đổ ra 2 lỗ chóp khác nhau (hình 11.107) và 10% chúng hợp lại và đổ ra 1 lỗ chóp (hình 11.108).

Hình 11.106. Xoang tủy ở 1 R36: miệng củanhững ống tủy gần khá tròn còn ở ống tủy xa thì thường có hình elip

Hình 11.107. Các ống gần của răng cối lớn một dưới có những lỗ chóp phân biệt. Chú ý rằng có nhiều ống tủy phụ ở 1/3 chóp (Courtsey of Dr. M. Scianamblo)

Hình 11.108. Các ống gần của răng cối lớn dưới hợp chung lại rồi đổ ra ở cùng một lỗ chóp. Có thể thấy nhiều ống tủy phụ ở chân xa.
Những biến thể:
– Trong 35% trường hợp có sự hiện diện của 4 ống tủy. Chân xa có 2 ống tủy, 1 ở phía ngoài và 1 ở phía trong (hình 11.109).
– Ống tủy xa thứ 2 thỉnh thoảng được thấy ở 1 chân riêng biệt ở phía xa trong. Nó hơinhỏ hơn và nằm ở phía gần chân răng xa ngoài (hình 11.110).
– Đôi khi có thêm 1 ống tủy “phụ” nữa ở chân gần. Nhừ vậy chân gần có 3 ống tủy (hình 11.111-11.113). Nó được gọi là ống tủy gần giữa.

Hình 11.109. A. Phim sau điều trị của RCL 1 dưới. B. Nhìn theo chiều gần xa trên cùng răng đó có thể thấy có 2 ống tủy ở chân xa, các ống tủy chân gần mặc dù gặp nhau ở 1/3 giữa nhưng vẫn có 2 lỗ chóp. C. Xoang tủy ở R36 với 2 ống tủy ở chân gần và 2 ống tủy ở chân xa. D.Trong trường hợp răng cối lớn dưới khác cũng có 4 ống tủy, mỗi ống tủy có 1 lỗ chóp riêng.

Hình 11.110. A. Một vùng hơi cản quang trong vùng chẽ R36 vì chân xa ngoài. Dễ dàng nhận ra phần laminadura bao quanh chân răng này và hình ảnh ống tủy. B. Hình ảnh răng cối lớn một dưới sau khinhổ ra. C. Phim sau điều trị R46 với 2 chân xa và 2 ống tủy xa.

Hình 11.111. A. R46 với 1 ống tủy xa và 3 ống tủy gần B. Phim sau điều trị, 3 ống tủy gần chồng lên nhau trên X-Quang.

Hình 11.112. Trong một số trường hợp khác, ống tủy gần giữa được thấy ở 1/3 chóp của chân gần

Hình 11.113. Điều trị lại R46 vì điều trị sót 2 ống tủy: ống xa ngoài và ống gần giữa. A. Phim trước điều trị. B. Xoang tủy sau khi bộc lộ 4 ống tủy. Chú ý sự hiện diện của 1 chỗ lõm ở vùng eo giữa 2 chân gần. C. Một file số 10 đi vào chỗ lõm và rất dễ dàng đi vào ống tủy gần giữa, ống này có một lỗ chóp riêng. D. Xoang tủy sau khi sửa soạn 5 ống tủy E. Ba file chỉ ra rằng có 3 ống tủy riêng biệt ở chân gần F. Phim sau điều trị. G. Một góc chụp khác cho thấy hình
ảnh 5 ống tủy. H. 7 năm sau điều trị, tổn thương lành hoàn toàn. Thương tổn trước đây không phải do vật liệu trám ra ngoài mà vì vi khuẩn còn lại trong ống tủy bị bỏ sót.
Cũng có những trường hợp 2 ống tủy chân gần và 3 ống tủy chân xa. Rồi những trường hợp với 2 ống tủy ở chân gần và 3 ống tủy ở 3 chân xa. Một biến thể thường thấy nhất là răng cối lớn dưới thường có 2 ống tủy ở chân xa.
Nếu chỉ có 1 ống tủy thì nó thường có hình dải băng hẹp, elip hoặc hình quả thận, dài ra theo chiều ngoài trong. Cần lưu ý rằng khi tạo xoang tủy thì không nên tạo hình tam giác (theo một số tác giả có mô tả) mà nên tạo hình tứ giác
hoặc hình như hình ¼ vòng tròn với các góc được làm tròn. Hình dạng tam giác cổ điển có thể cản trở việc nhận biết
sự hiện diện của ống tủy thứ 2 ở chân xa (Ví dụ ống tủy xa trong) và cũng cản trở việc làm sạch và tạo hình những
ống tủy đã được bộc lộ (hình 11.114)

Hình 11.114. A. Lối vào tủy hình tam giác. B. Mặc dù độ hẹp của nó, dụng cụ cũng có thể vào ống tủy; tuy nhiên hoạt
động của dụng cụ bị cản trở ở phần gần miệng vào lỗ ống tủy. C. Xoang tủy được mở rộng, loại bỏ hoàn toàn trần buồng tủy. D. Dụng cụ đi thẳng đến 1/3 chóp mà không gặp phải trở ngại ở phần miệng ống tủy. Chú ý rằng không liên quan đến đỉnh múi.
Một điều nữa, rằng là nha sĩ không được khuyên nên chú trọng vào hình dáng của xoang tủy mà nên chú trọng đến
giải phẫu của sàn tủy. Xoang tủy vì vậy mà không có một hình dạng nào được định trước.
Bắt đầu mở xoang tủy bằng mũi kim cương tròn với tay khoan siêu tốc. Đặt mũi khoan ngang mức rãnh trung tâm
(hình 11.115). Chuyển động mũi khoan tròn, xoắn ốc để tạo một xoang tủy dạng hình phễu. Một phim X-quang cho phép định hướng mũi khoan về phía sừng tủy rộng nhất (hình 11.116 A-C). Với một mũi khoan tròn dài và tay khoan chậm để lấy đi phần ngà bên dưới (hình 11.116 D,E); Sau đó, dùng mũi khoan tự hướng dẫn với tay khoan siêu tốc
để hoàn thành và làm loe (hình 11.116 F-I).

Hình 11.115. Xoang tủy có hình dạng tương ứng với sự phản ánh của sàn buồng tủy lên mặt nhai. Điểm đến của mũi khoan được xác định ở rãnh trung tâm.

Hình 11.116. A. Cắt buồng tủy theo chiều gần xa. B. Mũi kim cương tròn hướng về buồng tủy rộng nhất. C. X-quang hiển thị ở giai đoạn xuyên qua. D. Dùng mũi khoan tròn và tay khoan chậm để lấy hết những phần còn lại của trần buồng tủy. E. X-quang trong giai đoạn mở rộng.

Hình 11.116. (tiếp theo) F. Mũi kim cương đầu trơn trong giai đoạn hoàn thành và làm loe. G. X-quang của giai đoạn này. H. Xoang tủy đã hoàn thành. I. X-quang xoang tủy.
Chỉ khi chỉ có một ống xa khá tròn thì mới nên tạo xoang tủy có hình tam giác (hình 11.114 C). Trong tất cả những trường hợp khác, hình dạng xoang tủy nên là hình tứ giác với cạnh nhỏ hơn tương ứng thành xa.
Một khi xoang tủy đã được chuẩn bị, ống tủy xa là ống tủy dễ dàng định vị nhất. Vì vậy, nếu gặp khó khăn trong việc tìm những ống tủy khác, khuyên nên bắt đầu điều trị ống xa trước. Những dung dịch rửa sẽ giúp xác định những miệng ống tủy khác. Nếu cho rằng ống tủy gần ngoài nằm dưới múi tương ứng của nó thì cần phải loại bỏ phần múi để tìm thấy miệng ống tủy và hoàn tất quá trình điều trị. Rõ ràng rằng việc khôi phục lại một múi răng sau khi đã điều trị nội nha thành công tốt hơn là có một múi răng nguyên vẹn nhưng điều trị nội nha thất bại. Tuy nhiên, vì trong tất cả những răng sau, việc bảo tồn múi là rất cần thiết nên cần bảo tồn nó nếu như không cần thiết.
Ống xa thường có hướng khá thẳng, ngoại trừ hầu hết phần chóp thì thường nghiêng xa (hình 11.117). Lý do vì sao cong về phía xa cũng dễ hiểu, nếu như biết rằng hàm dưới vẫn còn phát triển về phía gần khi răng đã hoàn thành
việc đóng chóp. Chóp chân răng hình thành xung quanh một cuống mạch máu, vào một thời điểm nào đó cũng sẽ nghiêng theo chiều gần xa. Điều quan trọng là phải biết ống tủy có cong và dùng dụng cụ nhỏ, uốn cong trước. Một dụng cụ thẳng với kích thước không phù hợp sẽ bị cản trở bởi thành ngoài của chỗ cong, tạo cảm giác như dụng cụ đã đến tiếp xúc với chỗ thắt ở phía chóp hoặc chỗ nối cement ngà. Một dụng cụ nhỏ, uốn cong trước thì lại có thể dễ dàng vượt qua được đoạn cong ở phía chóp.

Hình 11.117. A. Phim trươc điều trị: ống tủy được điều trị bởi bột nhão iodoformic B. Làm cong file 8: dễ dàng qua chỗ cong của ống tủy C. Phim sau điều trị. D. Phim 2 năm sau. Chỗ cuối của vị trí trám bít ống tủy cách đỉnh chóp ít nhất 3mm.
Các ống tủy của chân gần cong hơn, nó cong về phía gần ngay bên dưới miệng ống tủy và rồi phần còn lại cong về phía xa. Thỉnh thoảng, ống tủy gần ngoài có miệng đối diện phía má, có thể thấy được điều này khi thấy cán dụng cụ đưa vào đối diện về phía lưỡi, trong trường hợp này buộc phải khoan tới múi để dụng cụ có một đường vào thẳng tới
1/3 chóp (hình 11.14). Khi có sự hiện diện của ống gần cong – và vì vậy chân răng chứa ống tủy congnày – sử dụng phương pháp dùng file “chống đoạn cong” là điều bắt buộc khi chuẩn bị ống tủy những chân này. Ống gần của răng cối lớn một dưới cùng với ống gần ngoài của răng cối lớn một trên là 2 vị trí thường xảy ra mài mòn, xuyên thủng
nhất (hình 11.118).

Hình 11.118. Bỏ qua việc áp dụng phương pháp “chống đoạn cong” dẫn đến kết quả mài mỏng quá mức thành chân răng và gây xuyên thủng A. Phim trước điều trị. Chú ý độ mỏng của chân gần và độ cong nhẹ của nó. B. Phim sau điều trị: thành xa của chân gần bị mài thủng.
Trong 10% trường hợp, 2 ống tủy có giao nhau tại chóp với 1 lỗ chóp (hình 11.119). Sự giao nhau này, theo quan điểm của tác giả, dễ dàng nhận thấy sau khi làm sạch và tạo hình ít nhất một ống tủy hơn là so với tại thời điểm bắt đầu điều trị. Quả thật, 2 cây file nhỏ có thể đồng thời đi vào 2 ống tủy khác nhau xuống chóp, thậm chí nếu 2 ống tủy giao nhau tại cùng 1 lỗ chóp, nếu nó đủ rộng thì có thể để 2 file đi qua. Đưa 1 dụng cụ lớn hơn vào 1 ống tủy và 1 cái nhỏ hơn vào ống tủy kia có thể dẫn đến cây nhỏ bị gãy

Hình 11.119. Phim sau điều trị cho thấy các ống gần gặp nhau tại cùng một lỗ chóp.
Theo quan điểm của tác giả, sử dụng côngutta-percha trong 1 ống tủy vừa được chuẩn bị và 1 dụng cụ nhỏ ở ống chưa chuẩn bị thì an toàn hơn. Nếu 2 ống tủy giao nhau, sẽ có dấu in lại của dụng cụ trên côn gutta-percha (hình 11.120). Vì việc mài hết thành ống tủy thường gặp ở ống gần ngoài hơn là ống gần trong của răng cối lớn một dưới.
Khuyên nên luôn luôn bắt đầu làm sạch và tạo hình 2 ống của chân gần, đầu tiên là ống gần trong sau đó dùng 1 cây côn gutta-percha và 1 dụng cụ nhỏ tìm xem có giao nhau giữa ống gần ngoài và ống gần trong tại cùng một lỗ chóp không.
Cần tiết kiệm phần ngà của ống gần ngoài bằng cách mở rộng ống tủy ít, làm giảm nguy cơ mài hết thành chân răng gây thủng.

Hình 11.120. A, B. Đặt gutta-percha vào trong ống tủy gần trong đã được làm sạch và tạo hình, còn file 8 được đặt vào trong ống gần ngoài chưa được sửa soạn. Tại chỗ giao nhau, trâm đâm xuyên qua côn gutta percha.

 

Sản Phẩm Liên Quan